Quẻ 2 – Thuần Khôn – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Thuần Khôn là quẻ số 2 trong tổng số 64 quẻ trong Kinh Dịch. Vậy đây là quẻ tốt hay xấu? Quẻ này có ý nghĩa luận giải ra sao? Ứng dụng của quẻ Thuần Khôn trong đời sống hàng ngày như thế nào? Tất tần tật sẽ được giải đáp trong bài viết tổng hợp dưới đây của Thăng Long Đạo Quán nhé! Mời các bạn cùng đón đọc!

1. Quẻ Thuần Khôn là gì?

Quẻ Thuần Khôn trong Kinh Dịch là quẻ Hung hay Cát?
Quẻ Thuần Khôn trong Kinh Dịch là quẻ Hung hay Cát?

Quẻ Thuần Khôn còn gọi là quẻ Khôn (坤 kūn), tức Đất là quẻ số 2 trong Kinh Dịch.

Đất mẹ, nhu thuận,
sinh sản và nâng đỡ muôn vật,

  • Nội quái là: ☷ (::: 坤 kūn) Khôn = (地) Đất
  • Ngoại quái là: ☷ (::: 坤 kūn) Khôn = (地) Đất

Phục Hy ghi: Khôn nghĩa là thuận.

XEM THÊMQuẻ Kinh Dịch là gì?

2. Luận giải ý nghĩa quẻ Thuần Khôn

2.1. Thoán Từ

Khôn, nguyên, hanh, lợi tẩn mã chi trinh; quân tử hữu du vãng: tiên mê, hậu đắc, chủ lợi Tây Nam đắc bằng; Đông Bắc tang bằng: An, Trinh, Kiết.

坤,元,亨,利,牝 馬 之 貞。君 子 有 攸 往, 先 迷 後 得,主 利 四 南 得 朋,東 北 喪 朋。 安,貞,吉。

Khôn, khác xa Kiền. Cho nên bốn đức căn bản là Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh tuy danh từ giống nhau, kỳ thực rất khác nhau về chữ Trinh 貞 . Kiền, thì lấy sự cường kiện làm Trinh; Khôn, trái lại, lấy sự mềm dẻo nhu thuận làm Trinh. “Tẩn mã chi trinh 牝 馬 之 貞”, là sự mềm dẻo và nhu thuận của “con ngựa cái”.

Bởi đối với Thiên Lý (Lẽ Trời) thì “Dương xướng Âm họa”, nên người quân tử nếu ở cái thế của quẻ Khôn sẽ không bao giờ tự mình chủ xướng việc gì trước; mà biết an phận làm “con tẩn mã”, làm phụ tá cho người ta.

Nếu lại vượt bực Âm Dương, Âm nhu mà lại “thủ xướng” thì phải bị hỏng việc; còn họa theo kẻ khác mà làm thì được việc hơn, nên hào từ mới bảo “tiên mê, hậu đắc”. Thủ xướng trước thì “mê lầm” mà phụ họa sau, là “hậu đắc” (được việc). Tây Nam, thuộc về hướng Âm, nên Khôn “thời”, có lợi đi đến hướng Tây Nam, không lợi, nếu đi đến hướng Đông Bắc (thuộc Dương). Mới nói: qua hướng Tây Nam, gặp bạn; qua hướng Đông Bắc, mất bạn (“Chủ lợi Tây Nam đắc bằng; Đông Bắc táng bằng”). Cũng là do câu “các tùng kỳ loại”! Muốn bình trị phía Nam mà dùng Cương đạo, thì hỏng; mà biết dụng Nhu đạo, thì được việc hơn.

“An trinh, Kiết”, cái hay của Khôn, là biết “giữ cho bền” đức Trinh của Khôn, là “nhu thuận”.

2.2. Thoán Truyện

Chí tai Khôn nguyên,

Vạn vật tư sinh, nãi thuận, thừa thiên.

至 哉 坤 元

萬 物 資 生,乃 順,承 天。

Đây, là để giảng rộng thêm đức Nguyên của quẻ Khôn. Ta nên để ý về lời tán của Thánh nhơn tác Dịch ở 2 quẻ Kiền và Khôn.

Ở quẻ Kiền, thì lời tán là “Đại tai, Kiền hồ! Cường Kiện Trung chính, thuần túy tinh dã 大 哉 乾 乎 ! 剛 健 中 正,純 粹 精 也。(To lớn thay, đạo Kiền! Đã Cường lại Kiện, đã Trung lại chính, lại vừa thuần túy, lại tinh nữa). “Kiện” 健 là bền dai, “Cương” là mạnh cứng, tức là Dũng khí, nhâng mạnh mẽ không bền, không phải là “Kiện”! “Kiện” tức mạnh mà lại bền, đó là nói về nghị lực.

Người có dũng khí quả cảm gọi là “Cương”, có tánh kiên trì nhẫn nại, gọi là “Kiện”, nhâng cũng cần tu dưỡng cho đến mực vô thái quá vô bất cập, bất thiên bất ỷ, thì mới nói được là có cả “Cương, Kiện, Trung, Chính”. Cũng chưa đủ, có cả 4 đức Cương, Kiện, Trung, Chính mà thiếu sự bền bỉ, trước như sau, thỉ như chung, thỉ chung như nhứt, thì mới thật là “thuần túy”. Thuần túy, rồi cũng lại phải tịnh nữa mới đầy đủ viên mãn.

Còn ở quẻ Khôn, thì lời tán nói khác: “Chí tai khôn nguyên, vạn vật tư sinh, nãi thừa thiên”. Ở Kiền, thì lời tán là Đại tai! (lớn thay); còn ở Khôn lại bảo: “Chí tai”, Khôn nguyên, là tại sao? (Đến nơi vậy thay! Đức Nguyên của Khôn).

Chính nhờ đức Nguyên này của Khôn, mà Dương khí biết dừng lại, biết đứng lại và để cho Dương khí biết trụ vào đó mà thụ hình, chẳng khác nào “tinh trùng” của cha gặp được “noãn bào” của mẹ bắt dừng lại mà tạo thành cái “thai” của đứa trẻ… “Dương sinh, mà Âm dưỡng” là thế! hay nói cách khác “Âm nuốt Dương”.

2.3. Đại Tượng

Địa thế Khôn, quân tử dĩ hậu đức, tải vật.

地 勢 坤。君 子 以 厚 德 載 物。

Địa thế của đất, tuy chỗ lồi chỗ lõm, mà nhìn lướt qua, giống như một mặt bằng phẳng bao la rộng lớn, chở được cả vạn vật, không từ khước một vật gì cả, tượng lòng bao la, rộng lượng, lòng yêu thương vô bờ bến của phái nữ, được tượng trưng ở lòng Bà Mẹ. Phụ nữ, có nghĩa là Tình yêu, mềm dẻo, dễ tha thứ, chở che, bao bọc, và hi sinh.

Tượng quẻ Khôn là một vực thẳm, hư không và bao dung được cả mọi người, thiện cũng như ác. Lòng dạ không bao giờ chứa chất hận thù. Đàn bà, là vị tha, đàn ông là vị kỷ, cho nên mới nói: người đàn bà mà ích kỷ, không phải là đàn bà, không xứng đáng là Bà Mẹ của muôn loài!

2.4. Tiểu Tượng

2.4.1. Hào Sơ Cửu

Lý sương kiên băng chí.

初 六:履 霜 堅 冰 至

Quẻ Khôn, là quẻ thuộc về tháng 10, tiết lập đông. Khi ta đi trên sương lạnh khoảng tháng 9 (chín), nghĩa là khoảng quẻ Bác cuối Thu (tiết sương giáng) khí âm lạnh lẽo và sương rơi, ta biết trước rằng sắp đến mùa Đông. Đời người cũng thế: đến cuối thu, là sắp đến Đông. Khi đã có triệu chứng suy vong, thì phải biết lo phòng trước… vì sự suy vong đang đến gần bên mình trong gang tấc.

Cho nên lời Tượng viết: “lý sương kiên băng, âm thỉ ngưng dã, tuần trí kỳ đạo; chí kiên, băng dã”! 履 霜 堅 冰,陰 始 凝 也,馴 致 其 道,至 堅 冰 也。“Lý sương” (chơn dẫm lên sương) là lúc đầu khí âm mới ngưng kết thành sương rơi, dần dần tích lũy đến âm khí lên cực độ mới biến thành giá (kiên băng 堅). Phàm việc trong thiên hạ, loạn đâu phải sinh ra ở thời loạn, mà sinh ra trong cảnh thanh bình. Mầm họa ở ngay lúc “lý sương”, bởi không biết răn mình ở lúc “lý sương” mà phải gặt lấy cái họa “kiên băng”! cũng chẳng lâu đâu. Khi nó đến, là sự đã rồi!

XEM THÊM: Luận giải 64 quẻ trong Kinh dịch!

2.4.2. Hào Lục Nhị

Trực, phương, đại, bất tập, vô bất lợi.

六 二:直,方,大,不 習,無 不 利。

Hào Lục Nhị, là hào chủ chốt của quẻ Khôn. Ba chữ “Trực” (ngay thẳng), “Phương” (vuông vức) và “Đại” (to lớn) là 3 đức tánh của quẻ Khôn. “Bất tập”, là để tự nhiên. Theo đạo Khôn, phải giữ cho bền ba đức tánh Phương Trực Đại cho được tự nhiên, và như vậy, khuyên ta đừng thêm gì nữa, đừng nói gì cả, mà hãy để tự nhiên, đừng mó tay vào làm trở ngại sự phát triển tự nhiên của sự vật.

Hào Lục Nhị, là trỏ vào bậc Thánh nhơn, vì ở đây “Thể Dụng kiêm toàn”, “nội ngoại vi nhất”. Lời Văn ngôn bảo: “Kính dĩ trực nội 敬 以 直 內”, lấy đức Kính mà trì thủ bên trong, lấy sự Chính trực ở nội tâm (tượng hào Nhị ở quẻ Khôn, là hào đắc Trung), và lấy đạo Nghĩa mà ràng buộc bên ngoài, không cho nó buông lung theo ngoại cảnh (“nghĩa dĩ phương ngoại).

Hai đức “Kính” và “Nghĩa” mà được đứng “vững” rồi (Kính Nghĩa lập) thì lòng người ngay thẳng vuông vức, nghĩa là không còn thiên vị về cái nghĩa chia ly Thiện Ác nữa, Tuệ trí càng ngày càng trở nên sáng suốt, không cần gì học tập mà việc gì cũng được tốt cả (bất tập, vô bất lợi).

2.4.3. Hào Lục Tam

Hàm chương khả trinh,

Hoặc tùng vương sự,

Vô thành hữu chung.

六 三:含 章

可 貞 或 從

王 事 無 成 有 終

Lục Tam được ngồi trên hết nội quái, đúng là cương vị của một bực nhơn thần. Dù sao, cũng phải biết phận mình là thuộc về quẻ Khôn, nên phải biết Khiêm hạ, theo số phận của kẻ không nên đứng đầu thủ xướng việc gì… “Hàm” là ngậm miệng lại, là cái khớp miệng ngựa lại… cho nên không nên thủ xướng việc gì, đừng kiêu căng lên mặt, tỏ ra là người dẫn đạo… thì mới có thể có được kết quả tốt (hữu chung 有 終) bằng không vậy, sẽ không thành công mỹ mãn được (“vô thành 無 成)”. Lục Tam, bất đắc vị, nhâng làm được việc, nếu biết Khiêm cung.

2.4.4. Hào Lục Tứ

Quát nan, vô cựu, vô dư.

六 四:括 囊,無 咎,無 譽。

Lục Tứ, là hào âm, tuy âm cư âm vị, mà bởi ở nhằm vào thời Khôn, nên phải bị cảnh “nhu thuận có dư, mà cương đoán bất túc”, rõ là hạng người bất tài, mà lại ở được địa vị rất cao (ở cận hào Lục Ngũ), tức là bậc cận thần của Nhà Vua (cỡ Tam Công).

2.4.5. Hào Lục Ngũ

Hoàng thường, nguyên, kiết.

六 五:黃 裳 元 吉

Ngũ, là vị chí tôn trong toàn quẻ, đắc trung đắc chính: Âm nhu mà đắc trung rất hợp với đức Nguyên của quẻ Khôn. Ngũ, cần phải tỏ ra từ tốn nhu thuận của quẻ Khôn, dù sao cũng chưa phải đúng là chính vị (vì Âm cư Dương vị) nên hào từ dùng danh từ “hoàng thường” (là cái áo lót màu vàng bận bên trong). Vàng, là màu của Trung thổ.

Lục ngũ là bậc quân tử thông suốt đạo lý, mà lại chịu hạ mình ở dưới, đó mới thật là tốt đẹp bên trong (chính vị cư thể, mỹ tại kỳ trung) mà làm cho nở nang bề ngoài, khuếch trương thành nghiệp lớn.

2.4.6. Hào Thượng Lục

Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng.

上 六:龍 戰 于 野,其 血 玄 黃。

Hào Thượng lục, là âm hào thịnh cực rồi! Từ hồi nào đến hồi nào, bao giờ Âm mà tranh nổi với Dương. nhâng Âm mà cực thịnh rồi, thì sức cũng ngang bằng với Dương. Âm cực thịnh, Dương cực thịnh trong 2 quẻ Khôn và quẻ Kiền, nên không bên nào nhường nhịn bên nào cả, mới có chiến tranh đến nhuộm huyết; “Huyền” là sắc của Dương, “hoàng” là sắc của Âm nên mới nói “Kỳ huyết huyền hoàng”. Đánh nhau đến cả 2 nhuộm máu. Cái gì lên cao quá, đều có hại. Thượng cửu là Dương cực, nên nói “Kháng long hữu hối”: đó là cái họa của cực dương!

Sở dĩ có hào Thượng lục, là bởi có sự nhận lầm theo Nhị Nguyên rằng Âm là Âm, Dương là Dương thuần túy, trong khi quẻ Khôn (tượng 6 hào Âm) tuy thấy không có Dương mà trong thực tế Dương chưa từng không có trong Âm, Kiền chưa từng không có trong Khôn: Kiền Khôn là bất nhị! như đồ Tứ Tượng đã nói lên.

Bởi có sự nhận lầm theo Nhị Nguyên mà trong Đại tượng quẻ Đại Hữu, câu “át ác dương thiện” đã bị giảng giải sai lầm như các nhà bình giảng Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố. Họ đã nói: “Át” đây, là ngăn chận một cách dứt tuyệt… Nguyên Mạng Trời phú cho loài người, chỉ có Thiện mà không có Ác, (nên phải) tuyệt loài Ác mới là thuận với Mạng Trời đó vậy!”. “Át ác”, là “ẩn át”, chứ không có nghĩa là “tuyệt loài Ác”, nếu loài Ác mà bị tận diệt rồi thì vũ trụ cũng đâu còn… Hột nguyên tử nào mà chỉ thuần Dương hay thuần Âm?

2.3.7. Hào Dụng Lục

Lợi vĩnh trinh.

用 六:利 永 貞 .

Hào Dụng lục: Lợi về sự vĩnh viễn, chính đính. Lời Tượng: Hào Dụng lục, vì được sự “vĩnh trinh” mà sự rộng lớn đều được chỗ cuối cùng! “nhu thuận lợi trinh”.

Trong 6 hào quẻ Khôn, tốt nhất có 2 hào Lục Nhị và Lục Ngũ. nhâng nếu lục nhị (đắc trung đắc chính) độc nhất là vị “Âm cư âm vị” nếu biết theo Dụng lục, thì kết quả, lợi to cho bản thân biết chừng nào, tức là nếu được Vĩnh Trinh (luôn luôn Trinh chính) đó là bậc đại thánh trí trong quẻ Khôn! Dụng lục, là biết dùng Nhu đạo như Lão tử đã khuyên dạy: Đức căn bản của bậc Đại Thánh.

3. Quẻ Thuần Khôn là quẻ HUNG hay CÁT?

Khôn” có nghĩa là “thân”, cũng có nghĩa là “thuận”. Nếu “Càn” là hình tượng mở rộng của ánh sáng và khí của trời thì ngược lại “Khôn” là hình tượng phát triển của khí đất. Nếu “Càn” là chức năng sáng tạo ra vạn vật của trời thì “Khôn” là công cụ của trời, thuận theo ý trời để sáng tạo ra vạn vật. Tất cả các hào trong quẻ Khôn đều là hào âm, là tượng của khí âm. Quẻ Khôn toàn hào âm, tượng trưng cho trái đất, nơi thu nhận hết thảy, nuôi dưỡng hết thảy. Trời phải có Đất mới được phát huy. Âm Dương, Trời Đất, tích cực, tiêu cực đối với đạo Dịch không phân biệt sang hèn, vì đó là sự phân hóa của tự nhiên, áp dụng vào nhân thế thì đó là sự phân cực của con người, dùng nó mà dự báo. Có tích cực phải có tiêu cực, có tiến bộ phải có lạc hậu. Tiến bộ từ lạc hậu mà nẩy sinh; lạc hậu từ tiến bộ mà chuyển hóa lên một bình diện mới, từ đó mới có tiến hóa.

Do “Khôn” tượng trưng “Đất”, mặt đối lập của “Trời”, mang tính nhu thuận, tính mềm mỏng, yếu ớt, vì thế được coi là hình tượng của hổ đói được ăn. “Ngã” là đói, “Thực” là thức ăn. “Hổ đói được ăn” là chuyện một con hổ bị đói lâu ngày, đang đi tìm mồi, bất ngờ gặp một con dê lạc đàn ngay trước mặt, lập tức vồ ăn ngay. Quẻ Khôn chỉ thời cuộc thiên về nhu thuận, bình lặng, không hợp với những đổi thay sóng gió hay bạo lực. Là thời vận của sự bao dung, của Tôn giáo, chiêm bốc, kẻ tu hành ẩn dật. Mọi mưu đồ trái với lẽ trên đều thất bại. Vì vậy nên yên tâm ở nghề nghiệp cũ, lắng nghe ý kiến người trên, làm theo mọi người, không nên đặt mục đích quá cao mà thất bại, tài vận chưa đến, kinh doanh mức cũ hoặc cùng hợp tác với nhiều người. Nên làm các công việc từ thiện. Xuất hành đi xa bất lợi. Kiện tụng khó xong. Thi cử khó đạt như ý. Tình yêu, lắm mối nhâng không thuận lợi. Hôn nhân nhiều do dự, khó thành.

XEM THÊM: Quẻ Thuần Càn!

4. Ứng dụng của quẻ Thuần Khôn trong đời sống hàng ngày

Ứng dụng của quẻ Thuần Khôn trong đời sống hàng ngày
Ứng dụng của quẻ Thuần Khôn trong đời sống hàng ngày
  • Ước muốn: Không thể hoàn thành được ngay tức thì. nhâng đừng nôn nóng và thiếu nhẫn nại. Kiên trì và cẩn thận sẽ gặt hái thành công.
  • Hôn nhân: Một cô dâu nhu mì, biết vâng lời và dễ tính.
  • Tình yêu: Có thể thành công, nhâng không được ích kỷ hay xem thường cảm xúc của người khác. Hành vi quá bốc đồng hay thiếu kiên nhẫn sẽ kết thúc trong thất bại.
  • Gia đạo: Bình an, khỏe mạnh và hạnh phúc.
  • Con cái: Đông con, hòa hợp và hạnh phúc; gái sẽ đông hơn trai.
  • Thai nghén: con gái.
  • Vay vốn: Khoản vay sẽ không được giải quyết tức thì, nhâng sẽ được nếu nhẫn nại kiên trì.
  • Kinh doanh: Không nên hành động; tốt nhất hãy chờ có được cơ hội tốt hơn.
  • Thị trường chứng khoán: Giá cả đang xuống; hãy mua vào lúc này và chờ cơ hội để bán ra.
  • Tuổi thọ: Sức khỏe kém, nhâng nếu biết chăm sóc bản thân mình, bạn có thể sông thọ.
  • Bệnh tật: Bệnh thuộc vùng bụng không nghiêm trọng, nhâng nếu lơ là, sẽ trở thành bệnh kinh niên.
  • Chờ người: Sẽ không xuất hiện ngay, nhâng vài ngày sau thì có thể.
  • Tìm người: Gần đâu đó, hãy tìm ở hướng tây nam.
  • Vật bị mất: Nếu không phải xảy ra ở trong nhà, vật đã bị mất rồi. Hãy tìm ở hướng tây nam.
  • Du lịch: Tốt nhất nên ngưng lại một thời gian.
  • Kiện tụng và tranh chấp: Không có lợi thế; tốt nhất là hãy hòa giải.
  • Việc làm: Sẽ không mau chóng tìm được công việc; phải chờ đợi đúng thời cơ.
  • Thi cử: Điểm số trung bình, kết quả không như ý muốn.
  • Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Chưa phải lúc thích hợp, nên chờ đợi.
  • Thời tiết: Trời âm u hay mưa không dứt.
  • Thế vận: Nóng vội sẽ hỏng cả khí vận bản thân. Nên lắng nghe ý kiến người trên và cùng hành động với số đông.
  • Hy vọng: không thể thành công vì ý đồ đặt ra quá sức nản thân, hãy hạ thấp mục tiêu sẽ thành.
  • Xem tài lộc: Chưa đến, phải thay đổi sách lược.
  • Sự nghiệp: tự mình làm chưa có thời cơ, có thể chung sức chung vốn với mọi người.
  • Nhậm chức: chưa như ý, cần có sự giúp đỡ từ phía cấp trên.
  • Nghề nghiệp: không nên chuyển nghề hay nơi đang làm.
  • Tình yêu: nữ giới có thể thành công, nam tốn nhiều thời gian nữa mới thành.
  • Hôn nhân: cần thời gian tìm hiểu mới thành.
  • Đợi người: người hẹn không đến
  • Đi xa: nên bỏ ý định chuyến đi này.
  • Pháp lý: bất lợi cho mình, nên hòa giải.
  • Sự việc: nên ủy quyền cho người khác giải quyết, mình không nên đứng ra.
  • Bệnh tật: bệnh nặng.
  • Người ra đi: đi gần đây.

5. Lời kết

Trên đây là bài viết luận giải ý nghĩa và các ứng dụng của quẻ Thuần Khôn trong mọi mặt của đời sống hàng ngày. Hy vọng bài viết đã mang lại cho bạn các thông tin hữu ích và đừng quên chia sẻ bài viết này đến bạn bè, người thân nhé!

Nếu còn bất kỳ điều gì thắc mắc, đừng ngần ngại để lại comment hoặc liên hệ trực tiếp hotline: 1900.3333 hoặc Zalo: 0855.100000Nhanh tay cài đặt ứng dụng Phu hợp về điện thoại của mình tại đây:

Đánh giá post
Bài viết khác

Quẻ 21 – Hỏa Lôi Phệ Hạp – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là quẻ số 21 trong tổng số 64 quẻ trong Kinh Dịch. Vậy quẻ này là quẻ HUNG hay CÁT?...

Quẻ 20 – Phong Địa Quan – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Phong Địa Quan là quẻ số 20 trong tổng số 64 quẻ trong Kinh Dịch. Vậy đây là quẻ tốt hay xấu? Quẻ...

Quẻ 19 – Địa Trạch Lâm – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Địa Trạch Lâm là quẻ số 19 trong tổng số 64 quẻ trong Kinh Dịch. Vậy đây là quẻ HUNG hay CÁT? Quẻ...

Quẻ 18 – Sơn Phong Cổ – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Sơn Phong Cổ là quẻ số 18 trong tổng số 64 quẻ Kinh Dịch. Liệu bạn có biết đây là quẻ tốt hay...

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

 
1900.3333