Quẻ 47 – Trạch Thủy Khốn – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Trạch Thủy Khốn là quẻ số 47 trong tổng số 64 quẻ trong Kinh Dịch. Vậy đây là quẻ tốt hay xấu? Ứng dụng của quẻ dịch này trong đời sống ra sau. Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết tổng hợp chi tiết dưới đây của Thăng Long Đạo Quán nhé! Mời các bạn cùng đón đọc!

1. Quẻ Trạch Thủy Khốn là gì?

Quẻ Trạch Thủy Khốn là gì?
Quẻ Trạch Thủy Khốn là gì?

 

Quẻ Trạch Thủy Khốn, đồ hình:|:||: còn gọi là quẻ Khốn (困 kun4), là quẻ thứ 47 trong Kinh Dịch.

  • Nội quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm hay Nước (水).
  • Ngoại quái là ☱ (||: 兌 dui4) Đoài hay Đầm (澤).

Giải nghĩa: Nguy dã. Nguy lo. Cùng quẫn, bị người làm ác, lo lắng, cùng khổ, mệt mỏi, nguy cấp, lo hiểm nạn. Thủ kỷ đãi thời chi tượng: tượng giữ mình đợi thời.

Quẻ Khổn tiếp sau quẻ Thăng, là vì hễ lên mãi, lên cao đến ngất trời, thì phải bị khốn đốn, bị ngã nặng mà chết! (thăng bất dĩ, tất khốn).

Theo thể của quẻ, thì Khổn do ngoại Đoài, nội Khảm (Âm trên, Dương dưới). Ngoại quái nhị Dương nằm dưới nhất Âm, còn Nội quái nhất Dương lại sụp vào ổ âm; đều là dương cương bị âm nhu che lấp, đó là Quân tử lọt vào thế lực của tiểu nhơn, thế đạo đang lâm vào cơn cùng khổn! nên đặt tên là Khổn.

XEM THÊMQuẻ Kinh Dịch là gì?

2. Luận giải ý nghĩa quẻ Trạch Thủy Khốn

2.1. Thoán Từ

Khổn hanh Trinh. Đại nhơn kiết, vô cựu.

Hữu ngôn bất tính.

困,亨,貞,大 人 吉,無 咎。

有 言 不 信。

Đoài, là cái miệng; Khảm, là nguy khổn, tức là cái tai họa do Miệng.

Chữ “Tín 信” có nghĩa là kín miệng, ít lời. Theo tâm lý, kẻ nhiều lời là người khó giữ chữ Tín, trước sau gì cũng để lộ ra những gì cần phải giữ kín. Trong cảnh nguy khổn mà chung quanh ta bọn tiểu nhơn hay dòm giỏ, rình mò ta ngay trong lời ăn tiếng nói, nếu không dè dặt, ít lời và kín miệng thì nguy! Trên là Đoài (tựa cái miệng); dưới là Khảm (tượng nước miếng): nói đến khô nước miếng, là nói quá nhiều! nên mới căn dặn chữ “Tín”, kẻ mà ta có thể tin được, là kẻ ít lời! và chỉ nói một lời…

Theo tượng quẻ Khổn, trên là nước đầm, dưới là nước chảy (thượng Đoài hạ Khảm) nhưng đầm bị rịn nước và lâu ngày làm cạn nước của đầm. Đó là đầm không có nước, đầm đã cạn nước, tượng sự kiệt lực vì nói nhiều quá! Nói nhiều hao khí lực! Đạo gia khuyên: nên câm lặng để dưỡng khí.

“Thượng khẩu 尚 口”, là “đua miệng” đua tranh nhau trong lời nói, đã không ăn thua gì lại còn vời họa đến cho mình là khác! Hai chữ “thượng khẩu” cũng có thể hiểu là “múa miệng khoe khôn” để được tiếng là kẻ có tài; hoặc là “xảo ngôn tâng bợ” để cầu thân, để mua lòng kẻ khác, hoặc là “bươi móc” tội lỗi, nói xấu kẻ khác để che lỗi mình; hoặc dùng miệng lưỡi để lừa gạt kẻ khác… đều có thể gọi chung là “thượng khẩu” mà nhà Phật gọi là “vọng ngữ”. Kết cuộc, chỉ làm cho ta đến bước đường cùng của thời “Khổn” mà thôi (“thượng khẩu nãi cùng 尚 口 乃 窮”).

2.2. Đại Tượng

Trạch vô thủy: Khổn.

Quân tử dĩ trí Mạng, toại chí.

象 曰:澤 無 水,困

君 子 以 致 命,遂 志。

Đầm cạn nước, là tượng quẻ Khổn. Đầm cạn nước, là cái đầm trống không, như cái “lòng không” (Tâm không) của người học Đạo! “Trí Mạng 致 命” là đi đến chỗ gọi là “Tâm Hư”.

Có tu được Tâm Hư mới có thể, trong thời Khổn, giữ được sự điềm đạm chí cực: “Điềm đạm Hư Vô” không để cho ngoại vật làm động đến Tâm mình. Điềm đạm là “như như” bất động, không còn bị vấn đề thị phi, thiện ác, vinh nhục, đắc thất… làm điên đảo lòng mình, giữ được sự tỉnh mỉnh phi thường trước mọi biến cố! Có làm chủ được lòng mình, mới làm chủ được tình thể gian nguy thời “Khổn”!

XEM THÊM: Luận giải 64 quẻ trong Kinh dịch!

2.3. Tiểu Tượng

2.3.1. Hào Sơ Lục

Đồn khổn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất dịch.

臀 困 于 株 木,入 于 幽 谷,三 歲 不 覿。

Tượng viết:

Nhập vu u cốc, u bất minh dã.

入 于 幽 谷,幽 不 明 也。

“Châu mộc 株 木”, là gốc cây trụi cành, chỉ còn có cái gốc trồi lên thôi. “U cốc 幽 谷” là hang tối. “Đồn”, là cái mông, bàn trôn.

Sơ Lục, là hào âm nhu, ở vào địa vị thấp nhất, là chỗ bất trung bất chánh (âm cư dương vị), ở vào thời Khổn thì khốn khổ đến chừng nào, có khác nào muốn ngồi nghỉ mệt, đâu có chỗ ngồi, như ngồi trên một gốc cây đã trụi cành chỉ còn trơ trơ một gốc cây trồi lên thôi, muốn cựa quậy thì bị dính trên gốc cây, mà có đi, lại rớt vào hang tối, đến ba năm chẳng gặp được ai! như lạc vào chốn hoang vu, không làm sao có gặp ai cứu cả!

Trên thì có hào Cửu Tứ là nơi tiếp ứng, nhưng khốn thay, “Tứ” này là một kẻ bất tài, bất trung bất chánh, thì còn cậy nhờ ai? “Tứ” đã chẳng những bất trung bất chánh mà dưới nó, không ai đỡ đầu, như cái lưới âm, không chỗ đứng!

Tự mình mà không độ nổi mình, thì còn lo độ ai trong thời khốn đốn này? Hoàn cảnh đành là tuyệt vọng! Một kẻ nhu nhược như Sơ Lục mà gặp tai họa thì nguy không thể nói!

2.3.2. Hào Cửu Nhị

Khổn vu tửu thực, chu phất phương lai, lợi dụng hưởng thực, chinh hung vô cựu.

困 于 酒 食,朱 紱 方 來, 利 用 亨 食,征 凶,無 咎。

Tượng viết:

Khổn vu tửu thực, trung hữu khánh dã.

困 于 酒 食,中 有 慶 也。

Cửu Nhị, là hạng quân tử (đắc trung đắc chánh), cùng với Cửu Ngũ đồng loại dương cương, nên không sao khế hợp được! Cửu Ngũ để ý đến Nhị, tuy quý trọng mà không thực tâm muốn dùng. Cho nên Nhị vẫn buồn, dù được ân lộc đầy đủ phủ phê: “Hữu danh vô thực”! Hay gì!

Thoán từ đã có lời răn đe, nhắn nhủ: “hữu ngôn bất tín, thượng khẩu nãi cùng 有 言 不 信,禴 口 乃 窮。” Tranh đua bằng lời nói cao thấp, thì là vời họa đến không sai.

XEM THÊM: Quẻ 46 – Địa Phong Thăng

2.3.3. Hào Lục Tam

Khổn vu thạch, cứ vu tật lê, nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê, hung.

困 于 石,據 于 蒺 藜,入 于 其 宮,不 見 其 妻,凶。

Tượng viết:

Cứ vu tật lê, thừa cương dã, nhập vu kỳ cung bất kiến kỳ thê, bất tường dã.

據 于 蒺 藜,乘 剛 也, 入 于 其 宮,不 見 其 妻,不 祥 也。

Lục Tam, là âm nhu, lại bất trung bất chánh (âm cư dương vị).

Khảm, là nguy hiểm, mà Tam lại đứng trên hết quẻ Khảm, tức là đã đi đến điểm cực độ của sự nguy hiểm, tiến lên thì đụng phải hào Tứ của ngoại Đoài là dương cương, nên bị dừng lại; còn như muốn đi xuống lại cũng gặp dương cương của Cửu Nhị. Cho nên xuống không được! Khác nào trên thì đầu va vào đá, còn xuống thì như ngồi lên bụi gai (tật lê). “Khổn vu thạch, cứ vu tật lê”.

Tiến thối đều chẳng được, thì chỉ còn có trở về nhà, nhưng về tới nhà, cũng không thấy có vợ ở nhà (“nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê 入 于 其 宮,不 見 其 妻”.)

2.3.4. Hào Cửu Tứ

Lai từ từ, Khổn vu kim xa, lẫn, hữu chung.

來 徐 徐,困 于 金 車,吝,有 終。

Tượng viết:

Lai từ từ, chí tại hạ dã. Tuy bất đáng dã, hữu dự dã.

來 徐 徐,志 在 下 也。 雖 不 當 位,有 與 也。

Cửu Tứ, sở dĩ đến từ từ trên chiếc “Kim xa” (xe vàng) uể oải, đáng thẹn (lẫn 吝) nhưng, kết cuộc cũng được (hữu chung 有 終).

Tứ, bản chất dương cương nhưng ở không đúng vị (dương cư âm vị), biết mình còn kém tài kém đức, nên đối với bản thân chưa xong trong thời Khổn, mới nghĩ đến người bạn phía dưới là Sơ hào (chí tại hạ dã) có lẽ sẽ tiếp cho? Nhưng, khó! Là vì giữa Tứ và Sơ còn có Nhị, thế lực mạnh lắm, lại còn bức ép Sơ đang bị khốn ở dưới, đến đỗi 2 bên muốn thân nhau (2 bên tiếp ứng với nhau bằng 1 âm 1 dương là phải nghĩa lắm), nhưng phải từ từ… Nhưng, nếu Tứ mà biết trì chí kiên gan, một lòng quyết ứng với Sơ, kết quả tất nhiên sẽ được!

Sở dĩ “lai từ từ” vì Tứ ở chưa phải chỗ của mình, “cư bất đáng vị”, nhưng rồi sau cũng sẽ được việc (hữu dự dã 有 與 也).

2.3.5. Hào Cửu Ngũ

Tị ngoạt, khổn vu xích phất, nãi từ hữu duyệt, lợi dụng tế tự

劓 刖,困 于 赤 紱, 乃 徐 有 說,利 用 祭 祀。

Tượng viết:

Tị ngoạt, chí vị đắc dã, nãi từ hữu duyệt, dĩ trung trực dã, lợi dụng tế tự, thụ phúc dã.

劓 刖,志 未 得 也,乃 徐 有 說, 以 中 直 也,利 用 祭 祀,受 福 也。

Cửu Ngũ, là hào dương cương, đắc trung đắc chánh, ở ngôi chí tôn, lẽ ra, là người cứu khổn phò nguy ở thời khốn khổ này, nhưng éo le thay, những kẻ thân của Ngũ đều bị thương, hay nói cho đúng hơn, tìm cách làm thương tổn Ngũ, trên thì Thượng Lục toan ra tay đè nén, dưới thì Cửu Tứ cũng toan làm phản và khuynh đảo. Cỡ như Cửu Nhị là thân tín nhất, dù mình đã ban “vớ đỏ” nó vẫn dửng dưng buồn bã không muốn thật tâm tiếp ứng với mình, thì có khác nào trên thì bị cắt mũi, dưới bị chặt chơn. Nhưng dù sao, thì Nhị rồi cũng sẽ hợp với Ngũ một cách từ từ (bởi cả hai đều cùng một loại dương cương (nãi từ, hữu duyệt 乃 徐 有 說).

2.3.6. Hào Thượng Lục

Khổn vu cát lũy, vu nghiết ngột viết động hối, hữu hối, chinh kiết.

困 于 葛 藟 于 臲 卼 曰 動 悔, 有 悔,征 吉。

Tượng viết:

Khổn vu cát lũy, vị đáng dã động hối hữu hối, kiết hành dã.

困 于 葛 藟,未 當 也,動 悔 有 悔,吉 行 也。

Hào Thượng Lục là hào cuối cùng của quẻ Khổn, tức là khốn khổ đến cực độ rồi, theo lệ, thì vật cùng tắc biến, nên mới nói: “Khổn vu cát lũy”. Hoàn cảnh rắc rối như bị chùm dây sắn ràng buộc, nên đi đứng không vững vàng, khấp khểnh. Như thế, cảnh khốn khổ đã đến mức cùng tột rồi, tự nó rồi sẽ tự giải. Đừng lo.

Nhưng, nhơn lực, óc thông minh của con người cũng phải biết phòng xa viễn lự, hễ bất cứ việc gì, nên tự hỏi: E động mà có hối chăng? (động, hối 動 悔). Dù ở hoàn cảnh “khốn cùng” mà có cùng cơ biến, nhưng lòng cứ “hữu hối” mãi… thì chắc chắn hành động mình sẽ được tốt! (hữu hối, chinh, kiết 有 悔 征 吉).

3. Quẻ Trạch Thủy Khốn là quẻ HUNG hay CÁT?

Lời giải quẻ kinh dịch Trạch Thủy Khốn: “Khốn” có nghĩa là “khốn đốn”, “không thể phấn chấn”, “không thể thoát ra khỏi cảnh bị sa lầy”. Vì vậy, nó có hình tượng bẫy chim đặt thang nhưng lại rút cọc. “Toát”: cầm, “Thê”: thang, “Trừu”: rút, “Can”: cọc. “Toát thê trừu can”: đặt thang rút cọc là chuyện hai người bàn nhau bắt chim sẻ, đã đặt thang rồi, song lại rút cọc đi, trong lòng hoảng hốt không yên. Kẻ gieo phải quẻ này có điềm “Tình trạng bất ổn”.

Như vậy Quẻ Trạch Thủy Khốn có điềm “Tình trạng bất ổn” là quẻ hơi xấu trong kinh dịch. Quẻ Khốn thì thời vận xấu, cái tiêu cực chiếm ưu thế, cái tích cực bị lấn át, thời đại mà những người lương thiện khó sống, người quân tử bị bao vây, vô hiệu hóa, công danh sự nghiệp khó thành, phải kiên nhẫn chờ thời, phải lấy sự nhẫn nhục bên ngoài để giữ cái chí bên trong. Kinh doanh thì tài vận không đến, nợ nần chồng chất, Công việc khó tìm, xuất hành bất lợi, kiện tụng thua thiệt, thi cử khó đỗ. Nếu không may bị bệnh thì dễ nặng lên, hao tiền tốn của. Tình yêu dễ bị lừa đảo, hôn nhân không thuận lợi.

4. Ứng dụng của quẻ Trạch Thủy Khốn trong mọi mặt của cuộc sống

Ứng dụng của quẻ Trạch Thủy Khốn trong đời sống
Ứng dụng của quẻ Trạch Thủy Khốn trong đời sống
  • Hôn nhân: Cuộc hôn nhân khốn khổ, bất cân xứng. Sẽ không thành công. Tốt nhất hãy tìm đối tượng khác.
  • Tính yêu: Sẽ kết thúc trong thất bại.
  • Gia đạo: Gia sản sa sút, khó khăn tài chính. Phải làm việc cật lực và đấu tranh để mở ra cơ đồ cho gia đình. Cuối cùng bạn sẽ thành công khi gặt hái được quả thịnh vượng.
  • Con cái: Không có con hoặc bị khổ sở vì con cái. Thai nghén: con gái.
  • Vay vốn: Sẽ không thành công.
  • Kinh doanh: Nhiều trở ngại; việc làm ăn sẽ không diễn ra đúng như mong đợi.
  • Thị trường chứng khoán: Giá thấp, thậm chí sẽ còn giảm giá nhiều hơn nữa.
  • Tuổi thọ: Bệnh hoạn và yếu ớt. Sống yểu nếu không biết nghiêm khắc với bản thân.
  • Bệnh tật: Bệnh nặng, kéo dài. Hy vọng bình phục nằm ở các kỹ thuật điều trị tăng cường. Các bệnh về phổi và các bệnh ảnh hưởng đến nội tạng của ngực và vùng bụng.
  • Chờ người: Sẽ không đến. Có khả năng mãi sau một thời gian dài người này mới đến.
  • Tìm người: Không biết được những chỗ thường lui tới của người này. Chẳng làm được gì ngoại trừ chờ cho các biến cố diễn ra thuận theo tự nhiên. Do đó tự nhiên sẽ có tin tức.
  • Vật bị mất: Chẳng dễ gì tìm được. Hãy tìm ở hướng bắc hay hướng tây.
  • Du lịch: Không thuận lợi.
  • Kiện tụng và tranh chấp: Mất nhiều thời gian và đầy đau buồn. Tốt nhất hãy từ bỏ hoặc cứ mặc cho vụ việc được giải quyết thuận theo tự nhiên.
  • Việc làm: Không hy vọng.
  • Thi cử: Điểm thấp.
  • Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyến môn hay chỗ làm: Chưa đúng lúc thích hợp.
  • Thời tiết: Thời tiết liên tục xấu.
  • Thế vận: đang bế tắc, tiến thoái khó khăn, không nên làm gì, chờ thời cơ.
  • Hy vọng: khó thành, cần thay đổi mục tiêu và phương pháp thực hiện.
  • Tài lộc: khó khăn, nợ nần gia tăng.
  • Sự nghiệp: chưa gặp thời, phương pháp hành động chưa thích hợp.
  • Nhậm chức: không có.
  • Nghề nghiệp: nếu chuyển nghề thì bất lợi.
  • Tình yêu: chỉ là chuyện hão huyền.
  • Hôn nhân: khó thành, bị cự tuyệt.
  • Đợi người: không đến.
  • Đi xa: không xong.
  • Pháp lý: tốn kém có khi thua kiện.
  • Xem sự việc: chưa giải quyết được.
  • Bệnh tật: nguy hiểm, tăng dần.
  • Thi cử: khó đạt kết quả.
  • Mất của: khó tìm.
  • Xem người ra đi: đi chưa có mục đích.

5. Lời kết

Trên đây là bài viết luận giải ý nghĩa và các ứng dụng của quẻ Trạch Thủy Khốn chi tiết nhất. Hy vọng bài viết này đã mang đến cho bạn các thông tin hữu ích và đừng quên chia sẻ bài viết này đến bạn bè, người thân nhé!

Nếu còn bất kỳ điều gì thắc mắc, đừng ngần ngại để lại comment hoặc liên hệ trực tiếp hotline: 1900.3333 hoặc Zalo: 0855.100000Nhanh tay cài đặt ứng dụng phù hợp về điện thoại của mình tại đây:

Đánh giá post
Bài viết khác

Quẻ 21 – Hỏa Lôi Phệ Hạp – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là quẻ số 21 trong tổng số 64 quẻ trong Kinh Dịch. Vậy quẻ này là quẻ HUNG hay CÁT?...

Quẻ 20 – Phong Địa Quan – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Phong Địa Quan là quẻ số 20 trong tổng số 64 quẻ trong Kinh Dịch. Vậy đây là quẻ tốt hay xấu? Quẻ...

Quẻ 19 – Địa Trạch Lâm – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Địa Trạch Lâm là quẻ số 19 trong tổng số 64 quẻ trong Kinh Dịch. Vậy đây là quẻ HUNG hay CÁT? Quẻ...

Quẻ 18 – Sơn Phong Cổ – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Sơn Phong Cổ là quẻ số 18 trong tổng số 64 quẻ Kinh Dịch. Liệu bạn có biết đây là quẻ tốt hay...

Quẻ 17 – Trạch Lôi Tùy – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Trạch Lôi Tùy là quẻ số 17 trong tổng số 64 quẻ trong Kinh Dịch. Vậy đây là quẻ HUNG hay CÁT? Quẻ...

Quẻ 16 – Lôi Địa Dự – Luận giải ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch

Quẻ Lôi Địa Dự là quẻ số 16 trong tổng số 64 quẻ trong Kinh Dịch. Vậy đây là quẻ tốt hay xấu? Quẻ...

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

 
1900.3333